Những nội dung cơ bản của Thông tư số 25/2026/TT-BNV về thi đua, khen thưởng
Ngày 01/10/2026, Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành Thông tư số 25/2026/TT-BNV quy định biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng và Nghị định số 368/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp để tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, khen thưởng.
Thông tư có một số nội dung quy định chung về thi đua, khen thưởng như sau:
- Đối với cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích xuất sắc đột xuất thì người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh khen thưởng theo thẩm quyền. Trường hợp thành tích tiêu biểu xuất sắc, có phạm vi ảnh hưởng trong Bộ, ban, ngành, tỉnh hoặc lĩnh vực thuộc Bộ, ban, ngành, tỉnh quản lý hoặc phạm vi toàn quốc thì Bộ, ban, ngành, tỉnh có trách nhiệm đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước theo tiêu chuẩn quy định.
- Khen thưởng khi sơ kết, tổng kết phong trào thi đua do Bộ, ban, ngành, tỉnh phát động: Người đứng đầu Bộ, ban, ngành, tỉnh thực hiện việc khen thưởng theo thẩm quyền. Bộ, ban, ngành, tỉnh không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước cho tập thể, cá nhân không thuộc quyền quản lý (trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 3 Quyết định số 45/2026/QĐ-TTg). Đối với sơ kết, tổng kết phong trào thi đua có thời gian từ 03 năm trở lên, Bộ, ban, ngành, tỉnh lựa chọn cá nhân, tập thể, hộ gia đình có thành tích tiêu biểu đề nghị tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Đối với sơ kết, tổng kết phong trào thi đua có thời gian từ 05 năm trở lên, Bộ, ban, ngành, tỉnh lựa chọn cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc tiêu biểu đề nghị Thủ tướng Chính phủ xét trình Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba hoặc Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Ba (đối với Bộ Quốc phòng, Bộ Công an).
- Khi Bộ, ban, ngành, tỉnh tiến hành sơ kết, tổng kết việc thực hiện luật, pháp lệnh, nghị định hoặc phục vụ hội nghị, hội thảo, diễn đàn quốc tế, khu vực... thì thực hiện khen thưởng theo thẩm quyền, không đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước, trừ thành tích phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, Nhà nước theo chỉ đạo của các đồng chí Lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước.
- Việc bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” trong một số trường hợp cụ thể được thực hiện như sau: Cá nhân tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc có hành động dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước, của Nhân dân dẫn đến bị thương tích cần điều trị, điều dưỡng theo kết luận của bệnh viện hoặc Trung tâm y tế khu vực trở lên thì thời gian điều trị, điều dưỡng được tính để bình xét tặng danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”; Cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn dưới 01 năm, chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thì thời gian học tập được tính vào thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức, đơn vị để được bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”. Trường hợp cá nhân được cử tham gia đào tạo, bồi dưỡng từ 01 năm trở lên thì thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng được tính vào thời gian để bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến”. Ngoài các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định chung, trong thời gian tham gia đào tạo, bồi dưỡng, cá nhân phải chấp hành tốt quy định của cơ sở đào tạo, hoàn thành nhiệm vụ học tập, đạt kết quả học tập từ loại khá trở lên (đối với khóa đào tạo, bồi dưỡng có đánh giá, xếp loại kết quả học tập) hoặc được cơ sở đào tạo cấp chứng nhận hoàn thành chương trình bồi dưỡng (đối với các khóa đào tạo, bồi dưỡng không tổ chức đánh giá, xếp loại); Đối với cá nhân chuyển công tác hoặc được điều động, biệt phái đến cơ quan, tổ chức, đơn vị khác trong một thời gian nhất định thì việc bình xét danh hiệu “Lao động tiên tiến”, “Chiến sĩ tiên tiến” do cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền đánh giá, xếp loại mức độ hoàn thành nhiệm vụ (đối với cá nhân là cán bộ, công chức, viên chức) hoặc cơ quan, tổ chức, đơn vị mới (đối với cá nhân không phải là cán bộ, công chức, viên chức) thực hiện. Trường hợp có thời gian công tác ở cơ quan cũ từ 06 tháng trở lên phải có ý kiến nhận xét của cơ quan cũ...
Thông tư số 25/2026/TT-BNV có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/10/2026 và thay thế Thông tư số 15/2025/TT-BNV ngày 04/8/2025 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ./.

